Lập vi bằng ghi nhận hợp đồng cho thuê lại quyền sử dụng đất

Thứ Sáu, 12 Tháng Mười, 2018 54 lượt xem Chia sẻ bài viết:

Việc chuyển giao các lợi ích vật chất không phải tự nhiên hình thành bởi vì tài sản vốn là hiện thân của các lợi ích vật chất, chúng không thể tự tìm đến với nhau để thiết lập các quan hệ. Nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không được bên kia chấp nhận cũng không thể hình thành một quan hệ để qua đó thực hiện việc chuyển giao tài sản hoặc làm một công việc đối với nhau được. Do đó, chỉ khi nào có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới được hình thành. Nhưng khi đã có sự thể hiện, thống nhất thành văn bản lại đặt ra rằng làm cách nào để ghi nhận sự kiện này. Câu chuyện của anh Trần Lập Hiên là một ví dụ:

Tôi có thuê các thửa đấtvới tổng diện tích 4000m2 và tôi đã hợp nhất các thửa đất này lại với nhau để làm bãi đỗ xe. Hiện nay, tôi muốn cho thuê lại đất mà tôi đã thuê với thời hạn cho thuê lại là 05 (năm) năm để bên thuê lại sử dụng làm bãi đỗ xe và kinh doanh các dịch vụ khác mà pháp luật cho phép. Hai bên chúng tôi đã thống nhất thỏa thuận như sau: Giá thuê đất 40.000.000 đồng/tháng. Trước khi ký hợp đồng này, Bên thuê lại đã thanh toán cho tôi  số tiền 150.000.000 đồng. Tôi và bên thuê lại có thỏa thuận như sau:  Tại thời điểm tôi  xác định mốc giới và bàn giao mặt bằng cho bên thuê lại, thì Bên thuê lại phải thanh toán tiếp cho tôi số tiền 90.000.000 đồng. (Tổng số tiền Bên  thuê lại thanh toán 02 đợt trên cho tôi là tiền thuê đất 06 tháng đầu năm 2017). Kể từ tháng 07/2017 trở đi, Bên thuê lại thanh toán tiền thuê đất cho tôi theo kỳ thanh toán 06 tháng/lần, vào ngày 15 đến ngày 20 của tháng đầu tiên của kỳ thanh toán và việc thanh toán tiền thuê đất được lập thành biên bản, có xác nhận của hai bên.

Vậy thì, hợp đồng cho thuê lại đất giữa tôi và bên thuê lại có cần công chứng hay chứng thực không? Nếu trường hợp mà không cần công chứng hay chứng thực thì tôi có thể thông qua thừa phát lại để ghi nhận việc lập hợp đồng cho thuê lại này không?

Dẫn giải tại Điều 500 Luật Đất đai năm 2013 quy định như sau: “Hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất.” Và khoản 1 điều 163 Luật đất đai năm 2013 quy định “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này.” Mặt khác, theo Điểm b, khoản 3, điều 167 Luật đất đai năm 2013 quy định: “Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;”

Như vậy qua các quy định củapháp luật hiện hành thì “hợp đồng cho thuê lại quyền sử dụng đất” không bắt buộc các bên công chứng hoặc chứng thực hợp đồng cho thuê lại quyền sử dụng đất. Các bên có thể công chứng, chứng thực hợp đồng hoặc không. Nếu không công chứng, chứng thực thì hợp đồng cho thuê lại quyền sử dụng đất giữa các bên có hiệu lực. Tuy nhiên, nếu muốn ghi nhận việc thành lập hợp đồng cho thuê lại quyền sử dụng đất thì có thể thông qua thừa phát lại để phòng tránh rủi ro. Điều này đã được quy định tại khoản 8, điều 2 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP sửa đổi một số điều nghị định số 61/2009/NĐ-CP về thẩm quyền, phạm vi lập vi bằng của văn phòng Thừa phát lại:

“Điều 25. Thẩm quyền, phạm vi lập vi bằng

  1. Thừa phát lại có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của đương sự, trừ các trường hợp quy định tại Điều 6 của Nghị định này; các trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng; vi phạm bí mật đời tư theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật dân sự; các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp và các trường hợp khác theo quy định pháp luật.
  2. Thừa phát lại được lập vi bằng các sự kiện, hành vi xảy ra trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại”.

Do đó, bằng cách thông qua văn phòng thừa phát lại lập vi bằng có thể ghi nhận sự kiện thiết lập hợp đồng cho thuê lại quyền sử dụng đất trong trường hợp này. Ngoài ra, Giá trị pháp lý của vi bằng do Thừa phát lại lập được quy định tại Nghị định số 61/2009/NĐ-CP:

“1. Vi bằng có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án.

  1. Vi bằng là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, có thể lựa chọn lập vi bằng để có thể hạn chế tối đa các rủi ro khi có tranh chấp xảy ra mà không cần mang hợp đồng cho thuê lại của mình đi công chứng. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, giá trị của vi bằng ghi nhận việc thỏa thuận các điều khoản cho thuê lại quyền sử dụng đất chỉ có giá trị chứng cứ trước Tòa và các quan hệ pháp lý khác, dùng để chứng minh việc các bên đã thỏa thuận các điều khoản này làm cơ sở để các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng, hoàn thiện hợp đồng theo quy định của pháp luật, hoặc là cơ sở để giải quyết khi có tranh chấp xảy ra.

Để được tư vấn vui lòng liên hệ:

VĂN PHÒNG THỪA PHÁT LẠI

Địa chỉ: Số 91 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội

Hotline: 0944 557 557

Email: canhdg@gmail.com

Hotline: 0909909909
Chat Facebook
Gọi điện ngay